Toàn quốc Quy trình tố tụng trọng tài cơ bản mà bạn cần biết

kyle26109409

Thành viên cấp 1
Tham gia
8/9/22
Bài viết
43
Thích
0
Điểm
6
#1
Thỏa thuận trọng tài

về bản chất, trọng tài là một quá trình thỏa thuận, điều này có nghĩa là các bên chỉ đưa vụ tranh chấp ra trọng tài nếu họ có thoả thuận về điều đó.

Những thỏa thuận này nhìn chung có thể chia thành hai dạng:

+ Thỏa thuận quy định rằng, nếu tranh chấp phát sinh, tranh chấp sẽ được trọng tài giải quyết. Những thỏa thuận này thông thường là các hợp đồng có chứa đựng điều khoản trọng tài.
+ Thoả thuận được xác lập sau khi tranh chấp phát sinh, theo đó các bên đồng ý tranh chấp sẽ được trọng tài giải quyết.

Dạng thỏa thuận thứ nhất là thỏa thuận phổ biến nhất. Đôi khi các bên đồng ý với một yêu cầu bổ sung gắn với thỏa thuận trọng tài. Ví dụ, tại các nước thuộc Khối thịnh vượng chung, các bên có thể thỏa thuận việc trả phí trọng tài trong một điều khoản trọng tài, tuy nhiên thoả thuận này không thuộc về loại hình thỏa thuận trọng tài được xác lập sau khi tranh chấp đã phát sinh như trên.

Tham khảo dịch vụ thành lập công ty trọn gói tại TP.HCM.

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam cũng ghi nhận tính độc lập của thỏa thuận trọng tài (Điều 19), theo đó thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài.

Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam đã xác định những trường hợp nào thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Điều 18 bao gồm:.

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài.
2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.
4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định của Luật Trọng tài thương mại.
5. Một trong các bên bị lừa dối, bị đe dọa, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là VÔ hiệu.
6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Nộp đơn kiện

Quy trình tố tụng trọng tài bao gồm nhiều giai đoạn, trong đó giai đoạn đầu tiên là việc nộp đơn kiện của nguyên đơn, kèm theo đó là việc chỉ định Trọng tài viên và nộp phí trọng tài. Nhìn chung, đơn kiện bao gồm ngày, tháng; tên và địa chỉ của các bên; tóm tắt nội dung vụ tranh chấp; căn cứ pháp lý để khởi kiện; trị giá của vụ tranh chấp và các yêu cầu khác của nguyên đơn; tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn, số lượng đơn kiện nhìn chung được xác định theo quy tắc tố tụng của các tổ chức trọng tài, ví dụ tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đơn kiện và các tài liệu kèm theo phải được lập thành 5 bản (đối với trường hợp Hội đồng trọng tài có 3 Trọng tài viên), hoặc 3 bản (đối với trường hợp Hội đồng Trọng tài có 1 Trọng tài viên). Khi nộp đơn kiện, nguyên đơn phải đồng thời nộp phí trọng tài.

Thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài hoặc Hội đồng Trọng tài vụ việc

1. Trường hợp thành lập Hội đồng Trọng tài tại Trung tâm Trọng tài

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài được quy định là trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và yêu cầu chọn Trọng tài viên do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên cho mình và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên. Nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;

Trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ chỉ định Trọng tài viên duy nhất.

2. Trường hợp Hội đồng Trọng tài vụ việc

Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc được quy định là trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn và các bên không có thỏa thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;

Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo. Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên và nếu các bên không có thỏa thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn;

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của các bên quy định tại các trường hợp nêu trên, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải phân công một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên và thông báo cho các bên.

Phiên họp giải quyết tranh chấp

Phiên họp giải quyết tranh chấp là hình thức hoạt động chủ yếu của trọng tài. Tại đây diễn ra quá trình tranh tụng, theo đó các bên tranh chấp phải phát biểu và trả lời các câu hỏi của Hội đồng trọng tài. Phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp; có quyền mời người làm chứng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài có thể cho phép những người khác tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp.

Vụ tranh chấp được đình chỉ giải quyết trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
b) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức mà không có cơ quan, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó;
c) Nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc được coi là đã rút đơn khởi kiện, trừ trường hợp bị đơn yêu cầu tiếp tục giải quyết tranh chấp;
d) Các bên thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp;
đ) Tòa án đã quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được.

Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp. Trường hợp Hội đồng trọng tài chưa được thành lập thì Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.

Khi có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp, các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết lại vụ tranh chấp đó nếu việc khởi kiện vụ tranh chấp sau không có gì khác với vụ tranh chấp trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp khác do luật quy định. Luật Doanh nghiệp 2020 cũng có bổ sung 1 số điểm mới khi thành lập công ty.

Quyết định trọng tài, phán quyết trọng tài và vấn đề hủy phán quyết trọng tài

Luật Trọng tài thương mại đã đưa ra các định nghĩa về quyết định trọng tài và phán quyết trọng tài.
Quyết định trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tổ tụng trọng tài.
Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn.
Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài.
Khi có Trọng tài viên không ký tên vào phán quyết trọng tài, Chủ tịch Hội đồng trọng tài phải ghi việc này trong phán quyết trọng tài và nêu rõ lý do. Trong trường hợp này, phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực.

Thi hành phán quyết trọng tài

Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài. Nếu hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký. Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
 

Đối tác

Top